Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2015-2016 tỉnh Bắc Giang và đáp án

HƯỚNG DẪN CHẤM, đáp án và Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2015-2016 tỉnh Bắc Giang.



Tải Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2015-2016 tỉnh Bắc Giang và đáp án PDF







Hãy like và share nếu bạn thấy hữu ích:

One Comment

  1. tran thi hai yen says:

    Mon ngu van

Reply to tran thi hai yen Cancel Reply


Phiên bản Text

Tuổi trẻ sẽ ra sao nếu sống thiếu ước mơ? Em hãy viết một bài văn để trả lời cho câu hỏi trên. 1. Yêu cầu về kỹ năng Đảm bảo hình thức một bài văn, có bố cục ba phần rõ ràng, mạch lạc. Đảm bảo chuẩn xác về câu, dùng từ, diễn đạt, chính tả,… 2. Yêu cầu về nội dung Đọc đoạn trích sau và trả lời những câu hỏi ở dưới: Nghe nồi cơm sôi, nó giở nắp, lấy đũa bếp sơ qua – nồi cơm hơi to, nhắm không thể nhắc xuống để chắt nước được, đến lúc đó nó mới nhìn lên anh Sáu. Tôi nghĩ thầm, con bé đang bị dồn vào thế bí, chắc nó phải gọi ba thôi. Nó nhìn dáo dác một lúc rồi kêu lên: – Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái! – Nó cũng lại nói trống. Tôi lên tiếng mở đường cho nó: – Cháu phải gọi “ba chắt nước giúp con”, phải nói như vậy. Nó như không để ý đến câu nói của tôi, nó lại kêu lên: – Cơm sôi rồi, nhão bây giờ! (Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng) a. Trong đoạn trích trên, ông Sáu và người kể chuyện mong chờ điều gì ở bé Thu? b. Câu nói “Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!” đã vi phạm phương châm hội thoại? c. Câu nói “Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!” mang hàm ý gì? d. Những câu “nói trống” của bé Thu đã thể hiện rõ thái độ không thiện cảm với ông Sáu. Tại sao bé Thu có thái độ như vậy? Về đoạn trích trong tác phẩm Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng a. Ông Sáu và người kể chuyện mong chờ bé Thu gọi một tiếng “ba”. b. Câu nói vi phạm phương châm lịch sự. c. Hàm ý: nhờ người chắt nước khi nồi cơm sôi. d. Bé Thu có thái độ như vậy vì không tin ông Sáu là cha mình.

Đề mang tính mở nên thí sinh có thể viết theo nhiều cách. Dưới đây là một số gợi ý cơ bản nhằm định hướng chấm bài: 2.1 Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghi luận 2.2 Thân bài a. Giải thích vấn đề Ước mơ là những ao ước, mong muốn có được những điều không hoặc chưa có trong thực tại. Ước mơ có nhiều biểu hiện và mức độ khác nhau; gắn liền với mọi lứa tuổi, đặc biệt là tuổi trẻ. b. Bàn luận về vấn đề Ước mơ có vai trò rất quan trọng, giúp người trẻ tuổi sống lạc quan; hình thành trí tưởng tượng, sáng tạo; có động lức để phấn đấu;… đặt nền móng cho những thành công trong tương lai. Khi tuổi trẻ sống thiếu ước mơ: Đời sống tâm hồn trở nên nghèo nàn, xơ cứng; khả năng, năng lực tưởng tượng, sáng tạo bị hạn chế. Không xác định được mục tiêu để sống; thiếu tinh thần lạc quan, thiếu động lực để phấn đấu, thiếu nghị lực để vượt qua thử thách nên khó có được những thafnhc ông trong cuộc đời. Phê phán những người sống thiếu mơ ước. c. lật lại vấn đề ước mơ có vai trò quan trọng nhưng nếu quá xa thực tiễn sẽ trở thành ảo tưởng hoặc nếu không gắn với những nỗ lực hành động để đạt mục tiêu thì đó chỉ là ước mơ suông nếu ước mơ hướng đến những mục tiêu không trong sáng sẽ biến con gười thành kể bệnh hoạn hoặc tham vọng ích kỉ, gây hại cho cuộc sống, xã hội và cho chính mình d.Bài học kinh nghiệm tuổi trẻ cần nuôi dưỡng cho mình những ước mơ cao đẹp, trong sáng ước mơ cần phù hợp với thực tế và phải luôn nỗ lực hành dộng để biến ước mơ thành hiện thực 2.3 kết bài thí sinh có thể kế bài bằng nhiều cách, có thể khái quát lại vấn đề được trình bày hoặc dùng bài học kinh nghiệm để làm kết bài… Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong Truyện Kiều của Nguyễn Du: Ngày xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi. Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa. Thanh minh trong tiết tháng ba, Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh. Gần xa nô nức yến anh, Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân. Dập dìu tài tử giai nhân, Ngựa xe như nước áo quần như nêm. Ngổn ngang gò đống kếu lên, Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay. (Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục 2013, Tr. 84 – 85)

1.Yêu cầu về mặt kỹ năng – Đảm bảo bố Cục ba phần rõ ràng, mạch lạc của bài nghị luận Văn học. – Dùng từ, diễn đạt, viết câu, chính tả Chuẩn xác; có ý tưởng Sáng tạo. 2.Yêu cầu về kiến thức Thí Sính có thê trình bày bài víêt theo nhiêu cách nhưng vê cơ bán, cân đạt được những điểm sau 2.1. Mở bài: giới thiệu khái quát về tác giả và tác phẩm, vị trí và trích dẫn đoạn thơ – Cảnh thiên nhiên bao Ia, khoáng đạt, tỉnh khôi. CÓ bầu trời cao trong được chấm phá bằng những Cánh én “đưa thoi”; có thảm Cỏ non xanh được “đíểm” vào những chấm trắng của hoa lê thanh khiết. – Cảnh lễ Tảo mộ và hội Đạp thanh tưng bừng, rộn ràng. CÓ cảnh “nam thanh nữ tú“ “tài tứ, giai nhân” nô nức trẩy hội; có cảnh “thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay” để tri ân, tưởng nhở người đã khuất. – Qua bức tranh thiên nhiên và lễ hội tiết Thanh minh, nhà thơ đã khắc hoạ tâm hồn trẻ trung, trong Sáng, tâm trạng náo nức du xuân và nếp Sống phong lưu của chị em họ Vương trước khi gặp cơn gia biển. b. Về nghệ thuật – Đoạn trích đã Sử dụng tài hoa những hình ảnh mang tính ước lệ và bút pháp chấm phá. – Ngôn ngữ tính tể, thiên về gợi đã tái hiện sính động, gợi cảm cảnh Sắc 2.3. Kết bài: đánh giá giá trị của đoạn trích hoặc khái quá lại nội dung bài viết…

Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2015-2016 tỉnh Bắc Giang và đáp án