Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2016-2017 tỉnh Bình Dương và đáp án

Đáp án và Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2016-2017 tỉnh Bình Dương.



Tải Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2016-2017 tỉnh Bình Dương và đáp án PDF







Hãy like và share nếu bạn thấy hữu ích:

Leave a Comment


Phiên bản Text



Câu 1: (2.0 điểm) Đọc đoạn thơ và trả lời các

Câu hỏi: Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Vong mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm. ………………………………………. ………………………………………. Xe vẫn chạy vì miền Nam Phí trước. Chỉ cần trong xe có một trái tim. (Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục 2008, trang 132) a. Chép chính xác hai

Câu thơ còn thiếu để hoàn chỉnh đoạn thơ trên. b. Cho biết đoạn thơ trên được trích từ tác phẩm nào? Tên tác giả? c. Chỉ ra các biện pháp nghệ thuật đặc sắc ở hai

Câu thơ vừa bổ sung. Nêu hệu quả nghệ thuật. d. Hình ảnh “trái tim” có ý nghĩa thế nào? Qua đó ca ngợi phẩm chất gì của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn thời chống Mỹ?

Câu 2 (1.0 điểm) Xác dịnh tên gọi các thành phần được gạch chân trong các

Câu sau: a. Đọc sách phải chọn đọc cho tinh, cho kỹ b. Cháu mời các bác uống nước ạ! c. Trời ơi, chỉ còn có năm phút! d. Minh ơi! Cậu có nhà không?

Câu 3 (2.0 điểm) Em hãy viết một đoạn văn bản nghị luận xa hội (khoảng 1 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về

Câu hỏi của nhà văn Lỗ Tấn: “Trên đường thành công không có vết chân của những người lười biếng”.

Câu 4 (5.0 điểm) Phân tích tình yêu làng thắm thiết, thống nhất với tình yêu nước và tinh thần kháng chiến ở nhân vật ông Hai trong đoạn trích truyện Làng của nhà văn Kim Lân. (Ngữ Văn), tập một, NXB, Giáo dục 2008, trang 162 – 171)
Hướng dẫn giải đề thi vào lớp 10 tỉnh Bình Dương môn ngữ văn năm học 2016 -2016



Câu 1 A. Không có kính rồi xe không có đèn không có mui xe, thùng xe có xước B. Đoạn thơ trên trích từ bài "Bài thờ về tiểu đội xe không kính" của Phạm Tiến Duật C. Các biện pháp nghệ thuật ở hai

Câu trên là: điệp từ "không" và liệt kê (Không kính, không đèn, không mui, xe lại có xước). tác dụng: tái hiện chân thực hình ảnh những chiếc xe trên tuyến đường Trường Sơn, Tô đạm những thiếu thống, khó khăn, gian khổ của những người lính, sự khốc liệt trên chiến trường và bản lĩnh của những người lính lái xe. D. Hình ảnh "trái tim" là một hình ảnh hoán dụ chỉ những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn. Đồng thời cũng là hình ảnh ẩn dự cho tinh thần trách nhiệm, ý chí chiến đấu của họ những con người dũng cảm, kiên cường, đã, đang và luôn dành trọn tình yêu cho đất nước.

Câu 3 a.Giải thích người lười biếng: lười suy nghĩ, học tập, lao động. người thành công: là mục đích, kết quả mà bản thân mất công sức, thời gian, trí tuệ trải qua gian nan, thâm chí thất bại mới có được => nhà văn Lỗ Tấn đã đúc kết nên chân lí của sự thành công: muốn thành công phải chăm chỉ, nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, học tập và lao động. b.Phân tích Con đường dẫn tới thành công là con đường chông gai, đầy khó khăn, thử thách chứ không phải bằng nhung lụa. Đóa là cả quá trình học tập, lao động, nghiên cứu, sáng tạo không ngừng, đòi hỏi con người phải cần cù, miệt mài, chịu khó và có ý chí thì mới thành. không có thành công nào đến mà không phải đổ mồ hôi, công sức. Ví dụ: người nông dân làm ra hạt gạo phải "một nắng hai sương": "Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần" Một công trình khoa học, một sáng chế ra đời: là cả một quá trình nghiên cứu, lao động miệt mài, khó nhọc của người kĩ sư mới có được. Hiện nay, lười biếng là một căn bệnh khá phổ biến, nhất là ở những bạn trẻ bởi bọ được nuông chiều, được sống trong điều kiện dư giả... Lười biếng sẽ khiến họ sống mờ nhạt, không có lí tưởng, không mục đích, không ý nghĩa và dễ thất bại trong cuộc sống. Dẫn chứng "Làm biếng ngồi ăn lở núi non" (Nguyễn Trãi), "Lười biếng là mẹ để của sự ăn cấp và đói rét" (V.Huy-go) c.Bàn luận, mở rộng Sự chăm chỉ, thái độ tinh thần làm việc nghiêm túc là một phẩm chất tốt đẹp mà con người cần phải có. Tuy nhiên, chăm chỉ thôi chưa đủ, nhất là trong thời đại ngày nay, chúng ta cần phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, phát huy trí tuệ rút ngắn con đường đến với thành công. Phê phán, lên án thối lười biếng, ỷ lại. d. Bài học, liên hệ bản thân: là một học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, em cần chăm chỉ học tập, rèn luyện, biết quý trọng thời gian và tận dụng mọi cơ hội học tập để có nền tảng kiến thức, kỹ năng tốt khi bước vào đời..

Câu 4 a.Giới thiệu chung Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông có sự am hiểu và gắn bó sâu sắc với cuộc sống nông thôn và hầu như chỉ viết về đề tài sinh hoạt ở làng quê cùng cảnh ngộ của người Nông dân Truyện ngắn "Làng" - một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của đời văn Kim Lân nói riêng và của nền văn học kháng chiến chống Pháp nói chung - sáng tác đầu kháng chiến, được in năm 1948 Truyện đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai với tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến hài hòa, nồng thấm. b.Phân tích b1.Tình yêu làng của ông Hai được thể hiện rõ nét qua: *Niềm tự hào, kiêu hãnh của ông Hai về Làng của mình: Dù đã rời làng nhưng ông vẫn luôn nghĩ về làng của mình, nghĩ về nhưng buổi làm việc cùng anh em. Lo lắng, nhớ đến làng:"chao ôi! Ông lão nhớ cái làng này quá" *Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng của mình đi theo giặc: Cổ ông nghẹn, giọng lạc hẳn đi. lúc đầu ông không tin nên hỏi lại. Ông quá xấu hổ nên đã chép miệng, đánh trống lảng: "Hà, nắng gớm, về nào..." rồi cúi mặt mà đi. khi về nhà, ông nằm vật ra giường. Tối hôm đó ông trằn trọc không ngủ được. ông nhìn trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng Việt gian rồi khóc. Ông điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông vẫn không tin lại có ai làm điều nhục nhã ấy. Lo sợ sẽ bị bà chủ nhà đuổi vì ông biết rằng nơi đây ai cũng kinh bỉ và không chứa chấp Việt gian => Với ông Hai, tin làm Chợ Dầu theo giặc là một cú "sốc" lớn. Niềm tự hào về làng của ông sụp đổ, tan tành trước cái tin sét đánh ấy. Cái mà ông yêu quí nhất nay cũng đã quay lưng lại với ông. Không chỉ xấu hổ trước bà con mà ông cũng tự thấy mất đi hạnh phúc của riêng ông, cuộc đời ông cũng như đã chết đi một lần nữa. *Tâm trạng của ông Hai sau khi nghe tin làm được cải chính: mặt ông vui tươi, rạng rỡ hẳn lên. về nhà, ông chia quà cho lũ trẻ xong liền chạy khắp xóm để loan tin. ông qua nhà bác Thứ và kể chuyện làng của mình => đó là niềm hạnh phúc vô bờ bến của ông Hai. b2. Tình yêu nước, yêu kháng chiến của ông Hai Hồi ở làng, ông rất tích cực tham gia kháng chiến, cùng anh em đào đường, đăp ụ, xẻ hào, khuân đả,.. "Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!" khi nghe các tin dân ta đánh Tây từ phòng thông tin. Khi nghe tin làm Chợ Dầu theo tây, ông kiên quyết không về các làng ấy nữa"Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù". Ông và con ông đều ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh ( cuộc đối thoại giữa hai cha con): "Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông". Ông hoan hỉ, hồ hởi thông báo: "Tay nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ! đốt nhẵn!". =>Như vậy, ở ông Hai, tình yêu làng là cơ sở cho tình yêu nước, yêu kháng chiến. Song, tình yêu nước, yêu kháng chiến. Song, tình yêu nước, yêu cách mạng có ý nghĩa định hướng cho tình yêu làng. b3. nhận xét: Nhân vật ông Hai đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả bởi tình yêu làng, yêu nước, yêu cách mạng nồng nàn, thắm thiết. Những tình cảm ấy hài hòa, thống nhất, hòa quyện vào nhau, thật cảm động. Điều này cho thấy những chuyển biến mới trong nhân thức và tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. c.Tổng kết Nhà văn xây dựng được những tình huống truyện đặc sắc, miêu tả thành công tâm lí nhân vật qua những cuộc đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng. Qua việc thể hiện tình yêu làng, tình yêu nước của ông Hai nhà văn còng mang đến một thông điệp ý nghĩa: Tình yêu Tổ quốc chẳng đến từ đau xa xôi, nó bắt nguồn từ chính những tình cảm gần gũi, bình dị, thân thương nhất.

Đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn năm học 2016-2017 tỉnh Bình Dương và đáp án